Thứ 6, 24/11/2017 - 04:57 | Vàng = 33.820 VND

Ưu ái nhà văn cựu chiến binh

15-04-2013 | 08:55
“Đàn chim vàng” (The Yellow Birds) được đánh giá là một trong những cuốn sách hay nhất năm qua. Có phải các nhà phê bình đã quá sợ hãi đến nỗi không dám động đến các quân nhân? Sách Hay giới thiệu bài viết của Michael Larson – một nhà văn sống ở New York, từng là một sĩ quan thuộc hải quân Mỹ.

Cuốn tiểu thuyết đầu tiên về cuộc chiến tranh Iraq của Kevin Powers, Đàn chim vàng, thu hút được nhiều lời giới thiệu vồn vã từ các cây bút nổi tiếng, gồm có các bài điểm sách, đề cử Giải thưởng sách quốc gia, xuất hiện nhiều lần trên truyền hình, Giải thưởng sách đầu tiên của tạp chí Người bảo vệ và các ý kiến tán dương hầu như ở khắp nơi. Và cuối năm qua, nó được thêm vào danh sách những cuốn sách hay nhất năm 2012 của Thời báo New York. Với sự đồng thuận lớn, Đàn chim vàng là một tác phẩm kinh điển của văn học chiến tranh.

 

Chỉ có điều: cuốn tiểu thuyết này không đủ tiêu chuẩn để được ca ngợi.

 


Bìa cuốn 
Đàn chim vàng và tác giả

 

Thật vậy, cuốn sách có rất nhiều thiếu sót khiến người đọc phải tự hỏi các nhà phê bình ăn phải bả gì? – Đó là một chất kích thích, gây nghiện lâu dài trong lực lượng vũ trang và cựu chiến binh Mỹ. Phổ biến trong giới quyền lực. Thường được dùng để làm dịu cảm giác tội lỗi cho các cựu chiến binh gánh chịu nặng nề qua chiến tranh. Cựu chiến binh đã bị lợi dụng suốt thập kỷ qua từ việc sử dụng rộng rãi loại thuốc ru ngủ rất hợp pháp này. Theo cuộc thăm dò dư luận của viện Gallup, không một tổ chức nào của chính phủ được tôn trọng hơn các lực lượng quân sự, và cựu chiến binh là nhóm cử tri gần như là thiêng liêng. Trong cách nói tiếp thị chung, “Anh hùng” (Hero) đã trở thành thuật ngữ cũ rích trong bất cứ việc gì liên quan tới các cựu chiến binh: “Hội nghị Anh hùng”, hoặc “Lễ tuyên dương Anh hùng” hoặc (tên một công ty) “Chào mừng các Anh hùng”… Với nhiều người lính – việc mang danh hiệu khắp nơi khắp chốn là chuyện buồn cười. Audie Murphy (1925 - 1971) là một anh hùng, ông chỉ nghĩ mình là một người lính bình thường.

 

Sự trọng vọng dành cho các cựu chiến binh nhìn chung là một điều tốt, tưởng thưởng xứng đáng họ với luật mới về tài chính quân đội, được ưu tiên tuyển dụng và vào cửa miễn phí tại chuỗi công viên Sea World cùng nhiều điều khác. Nhưng thái độ này cũng đã bắt đầu bước vào lĩnh vực nghệ thuật, và hiệu quả là nguy hại.

 

Kevin Powers, một cựu chiến binh ở Iraq và nhà thơ thuộc Tổ chức trợ giúp gia đình quân nhân (MFA), chỉ là ví dụ mới nhất và nổi bật nhất. Nhà báo Ron Charles của Washington Post có bài phê bình đa chiều về Đàn chim vàng: “Trước một cuốn tiểu thuyết chiến tranh của một cựu chiến binh, sự xơ cứng nhiệt tình của một người có vẻ do nếu không phải là không yêu nước, thì ít nhất cũng là khó tính và hẹp hòi. Chắc chắn, bất cứ ai đã trải qua chiến đấu và sống sót để viết về nó cũng xứng đáng được vinh danh qua các nhà sách dưới cơn mưa hoa giấy làm từ các lời giới thiệu chúc mừng”. Và đó chính xác là những gì các nhà phê bình và giới có ảnh hưởng trong văn học đã làm.

 

Những người chấp bút các bài tán tụng dường như không hiểu rằng với cách ca ngợi cuốn tiểu thuyết không gây một chút ấn tượng nào của Powers, họ đã cố gắng nhào nặn các cựu chiến binh chân chính thành các nhà vô địch. Thay vì được đánh giá theo cùng một cách thức và tiêu chuẩn thẩm mỹ như người đồng trang lứa khác, thì các cựu chiến binh bị chấm điểm một cách vòng vèo – một điểm A châm chước vì nỗ lực (dù rằng một ngôi sao vàng có thể xứng đáng hơn). Không cớ gì để Đàn chim vàng được ưu ái hơn so với hầu hết các tiểu thuyết khác, đây là một ví dụ điển hình về kiểu viết hùa theo hội hè.

 

Ngay cả thuật ngữ “tiểu thuyết” là hơi nhầm lẫn khi gán cho Đàn chim vàng, câu chuyện về binh nhì John Bartle tại Iraq và các công việc khó nhọc về sau ở Mỹ thiếu diễn tiến tường thuật và sự gắn kết mà một cuốn tiểu thuyết truyền thống cần có. Nó giống một tuyển tập các câu chuyện mắt xích, với đà tiến của một con ốc sên. Và trong vài chỗ hơi hấp dẫn, Powers lại cố hết sức để phá hoại nó với việc mô tả cảnh quan dường như tràn lan: “bao la và xa thẳm” hoặc “tươi hồng” hoặc “xám đậm”... Đây chắc chắn là tiểu thuyết thơ thẩn, trong mọi ý nghĩa dở của từ ngữ này.

 

Tuy nhiên, sa đà trữ tình là điểm nhẹ nhất trong các vấn đề của cuốn tiểu thuyết. Nhân vật và các chi tiết cốt truyện dường như lấy sẵn trong kho tàng sách đồ sộ về chiến tranh xưa nay: trung sĩ mạnh mẽ; sĩ quan cao cấp quát tháo ầm ĩ; phóng viên hỏi về “cao điểm” của cuộc chiến; “cao thượng”, và những người lính hứa hẹn mang con trai về cho một bà mẹ (sự thật: anh ta đã chết). Powers liên tục khoa trương về tài liệu và đặc biệt về tiếng nói của mình là tuyệt đối không gì so sánh được. Ông nhiệt tình lái từ phong cách khúc chiết của Hemingway tới thái độ cực đoan quanh co, mỗi đoạn vón cục với các mệnh đề và phép ẩn dụ, gắng gượng như “ách giữa đàng lại mang vào cổ” đối với một số điều đáng lẽ rất giản dị.

 

Một cựu chiến binh đã nói, Đàn chim vàng là một cuốn tiểu thuyết chiến tranh Việt Nam tái diễn ở Iraq. Nhiệm vụ của một cuốn tiểu thuyết là vẽ lên sự thật thông qua ngôn ngữ và nhân vật, tường thuật và kỹ xảo. Rốt cuộc, Đàn chim vàng không với tới cả sự thật lẫn thẩm mỹ. Powers có các sự kiện sát thực, nhưng giọng điệu cầu kỳ và không khí thì hoàn toàn trái ngược với đất nước Iraq thực sự là nơi hỗn loạn, lạc hậu, trần trụi và đáng sợ. Lâu nay không có điều gì ở đất nước này chưa được miêu tả tốt hơn trong các hồi ký chiến tranh. Cuối cùng, độc giả phải trả giá. Tin đây là tác phẩm kinh điển, nhiều người đọc sẽ phải thất vọng, và càng có ít cơ hội cho một cuốn tiểu thuyết kinh điển thực sự về chiến tranh sau này.

 

Có thể là quá khắc nghiệt nếu phê bình nặng nề nỗ lực chân thành của một người đã cống hiến cho cuộc chiến của đất nước. Và một số người có thể tranh luận rằng không có gì là sai khi châm chước cho một thương binh. Nhưng nhiệm vụ của một nhà phê bình không phải vậy. Với Đàn chim vàng, tất cả các bài phê bình đều trắng trợn rằng những gì viết ra bởi một người quan trọng thì cũng quan trọng không kém. Các nhà văn cựu chiến binh biết con đường dễ dàng nhất để in sách là viết về chiến tranh, các vấn đề cựu chiến binh và quân đội. Nếu không, con đường sẽ gian nan hơn nhiều. Sức ảnh hưởng bắt nguồn từ bản thân tác giả chứ không phải ông ta viết như thế nào. Trước hết ông ta là một cựu chiến binh, sau đó mới là một nhà văn. Ông ta đã được đóng dấu với chiến thắng vẻ vang, và tách biệt khỏi thế giới bằng dấu hiệu riêng này. Nhiều người như Powers được biết đến là nhà văn cựu chiến binh hơn so với chỉ đơn giản là nhà văn.

 

Không nhất thiết một cựu chiến binh phải viết về chiến tranh và quân đội. Minh chứng là cuốn tiểu thuyết hay nhất cho đến nay về kinh nghiệm chiến tranh của Mỹ là Billy Lynn’s Long Halftime Walk của nhà văn thường dân Ben Fountain. Tuy nhiên, mỗi lần một cuốn tiểu thuyết, hồi ký hay một bài báo của một cựu chiến binh ra đời lại được đánh giá theo một tiêu chuẩn ưu tiên hơn. Các cựu chiến binh cố gắng lập danh trong văn chương đã nhận thấy chính họ phải đối diện với một khoảng cách phân biệt họ với các nhà văn đồng nghiệp. Nếu các nhà phê bình không làm đúng công việc phê bình, khoảng cách này sẽ càng mở rộng.

 

Đàn chim vàng là nỗ lực đáng quý của một tác giả tài năng, nhưng chúng ta vẫn chưa có cuốn tiểu thuyết kinh điển về chiến tranh và khủng bố.

  

Trí Sơn (dịch)