Thứ 6, 24/11/2017 - 05:17 | Vàng = 33.820 VND

Ngôi nhà nhỏ bên hồ >>Truyện ngắn của PHẠM DUY NGHĨA

23-02-2016 | 10:28
Mùa thu năm ấy, họa sĩ Viễn rời thành phố về sống tại ngôi nhà cũ kĩ ở vùng hồ. Trước nhà là triền cỏ thoai thoải màu đỏ hung, phía sau là rừng bồ đề bát ngát.

Không khí ở đây thật dễ chịu. Buổi trưa Viễn thường hóng mát trên chiếc võng mắc đầu thềm. Cạnh đó có một lùm nhót to khoe mặt trái lá nhấp nhánh như bạc, dệt bao nhiêu là hoa nắng trên mặt đất. Rì rào trong nắng thu xanh dịu, nó tự hào rằng nếu không cho đời bao trái chín đỏ, bà cụ chủ nhà hay quên lẫn không biết nơi đây từng có một mùa hè.

Vào buổi chiều, nếu trời nắng, đứng trên rừng bồ đề nhìn ra dãy đồi mờ xanh phía trước sẽ thấy một vệt sáng như ánh thép lóe lên từ lưỡi dao sắc mỏng. Đó là hồ Thác Xanh.

- Hôm nào chú theo cháu ra hồ cất tôm nhé - Nhi nói.

Từ ngôi nhà anh ở, muốn ra hồ phải đi theo lối mòn trên đồi cỏ trải dài phía trước. Có buổi chiều tà se lạnh, sương mù màu xanh lam rất mỏng từ hồ tỏa lên đồi. Những thân bạch đàn mảnh dẻ trắng xanh như tấm thân người phụ nữ vừa ốm dậy, thì thầm thả xuống màn sương chiếc lá úa màu đỏ tía. Có lẽ đó là cách tỏ tình âu yếm nhất của chúng đối với mùa thu.

“Mọi vật đều có linh hồn” - Viễn thầm nghĩ. “Cái khó là làm sao lôi được chúng ra, để cái ánh trăng mơ hồ ấy bàng bạc trên nền vải”. Anh thường đứng rất lâu ở đó, nghe tiếng vỗ rì rào ấm áp. Không phải của sóng, của gió, mà của tâm hồn.

Anh quen cô bé Nhi vào một buổi chiều. Hôm ấy đang dạo chơi trong rừng bồ đề, anh bắt gặp một cô bé khá xinh xắn. Đứng ôm một cây bồ đề lớn, tai áp vào vỏ cây,  nó ngước nhìn lên vòm lá bồi hồi lấp lánh nắng. Cô bé trạc tuổi mười lăm, nom có vẻ nghịch ngợm, mặc chiếc áo lính tuột khuy đã bạc sờn. Cạnh chân là bó củi bồ đề khô.

- Cháu đang nghe gì thế? - Anh cất giọng dịu dàng.

Gió thổi mạnh. Cả khu rừng ào ào như sóng biển. Những vệt nắng nhảy múa  trên vai và tóc cô bé, trông như những đồng xu bạc sáng màu. 

- Chú nghe thấy gì không? Nó đang khóc đấy - Cô bé thì thầm - Không biết ai chém nó thế.

Trên thân cây bồ đề có vết chặt nham nhở bằng bàn tay, trong kẽ đọng một cục nhựa màu hổ phách thơm ngọt ngào, lóng lánh. Anh gỡ nó ra, giúi vào những ngón tay thon rám nắng của cô bé. Nó nhìn người đàn ông lạ mặt mặc áo kẻ ca rô đỏ, trìu mến phủi bụi bám trên quần anh: “Quần chú lấm hết rồi”. Rồi xốc bó củi lên vai và bỏ đi. Được một quãng, cô bé ngoảnh lại nói to:

- Nhà cháu ở bên hồ.

Viễn mỉm cười, nhìn theo cái bóng bé nhỏ khuất dần dưới chân đồi. Lòng anh như có luồng gió xốn xang ấm áp thổi qua xua tan nỗi phiền muộn. Cay đắng đến với Viễn vào một buổi sáng, khi người vợ từng say mê anh vì tài năng hội họa ném bức tranh anh vẽ dở ra giữa nền: “Ôm cái nghệ thuật của anh ra vỉa hè mà gặm nhấm! Giờ thì tôi hết chịu nổi rồi. Cái dạ dày này không tiêu hóa được những tâm hồn cao quý”. Viễn im lặng. Dầu sao anh cũng có lỗi vì không mua nổi chiếc máy giặt cho vợ. Hai hôm sau, cầm bức thư giới thiệu của anh bạn nhà báo có bà bác ruột ở vùng hồ, Viễn xách chiếc hòm cũ kĩ đựng bút vẽ, sơn dầu và vải gai ra bến cảng. Anh thầm mong không khí tươi mát của thiên nhiên, những trận gió ào ạt của khu rừng mùa thu sẽ làm se đi vết thương trong sâu thẳm tâm hồn.

Một buổi trưa, Viễn ngồi vẽ trong những tiếng chí chát như có muôn ngón tay vô hình gõ lên chiếc máy chữ khổng lồ. Mọi nhà quanh vùng băm nứa, dẹ và giang bán cho nhà máy giấy. Ngoài sân, bà cụ chủ nhà đang nói chuyện với người nào đó. Viễn buông bút, bước ra cửa. Nắng loang vàng trên sân. Cô bé anh gặp trong rừng hôm trước đang ngồi băm nứa. Mấy sợi tóc màu lửa dính bết trên bầu má đẫm mồ hôi của nó. Vụn nứa tươi bắn tung lên lấp lánh như những tia nắng rộn ràng.

- Sang năm cháu của bà mười sáu rồi Nhi nhỉ? Chóng nhớn mà xinh đáo để. Đã có đứa nào nhòm ngó chưa?

- Bà trêu cháu in ít thôi - Cô bé lườm yêu bà cụ rồi cười - Đám bạn cháu mới tí tuổi đầu đã tớn lên bà ạ. Hôm nọ con Hoa thì thầm với cháu: “Ngực tao nổi bằng chũm cau thế này rồi mà bà già còn cấm yêu”. Nó đang mê tít chàng lính thông tin mà. Đêm nào anh chàng cũng nấp sau bụi cúc tần trước nhà nó, giả tiếng chó làm ám hiệu, khiến chó nhà cũng sủa rinh lên. Bà thấy thế nào? Đúng là tình yêu bọ xít.

Chợt trông thấy Viễn, cô bé xấu hổ. Nó phì cười chạy ra giếng. Kéo sợi dây gầu vắt qua ròng rọc ken két, nó xì xục vã nước lên mặt và uống nước trong chiếc gầu bằng cao su.

- Con bé tốt đáo để - Bà cụ cười, nói với Viễn - Chả phải con cháu gì mà  cứ rảnh là lên đây giúp bà. Nó học giỏi nhất vùng này đấy, nhưng bướng bỉnh ghê lắm.

- Cháu học lớp mấy rồi? - Viễn hỏi Nhi.

Nó đã nín cười, tỏ ra nghiêm nghị.

- Cháu mới vào cấp ba.

- Nghỉ một lúc đã, ngồi xuống đây bà quạt cho! - Bà cụ âu yếm nói - Mặt mũi đỏ như tôm luộc thế kia còn gì.

Viễn cảm thấy rất mến cô gái bé nhỏ này. Anh dẫn nó vào trong nhà. Nhà rộng, bà cụ dành riêng cho anh một gian làm “xưởng vẽ”. Cô bé nhìn bức tranh Con đường của Levitan lồng trong khung gỗ đỏ, mắt sáng lên một tia rất lạ. Lại nhìn đống giấy vải, sơn dầu ngổn ngang của anh, nó hỏi:

- Chú là họa sĩ à?

- Ừ .

- Nghề của chú chỉ làm tốn giấy mực thôi - Cô bé nói thản nhiên.

- Vì sao vậy? - Viễn nhíu mày.

- Các chú toàn vẽ những hình vuông, hình đa giác nhằng nhịt rồi bảo đấy là biểu hiện của tâm trạng, tâm hồn. Cháu xem trong tạp chí ấy, cháu biết thừa ra! Tô màu thì đẹp, nhưng kì thực các chú cũng lừa người ta một tí ti đấy!

Viễn bật cười. Anh giải thích rằng hội họa có nhiều trường phái, mỗi trường phái có một thi pháp riêng.

- Thế cái việc các chú cố tình vẽ mặt người méo như củ khoai tây, hai mắt to như hai cái bát thì sao? Cháu chả thấy có gì là hay cả.

Viễn phân tích cho Nhi thấy cái hay, cái đẹp trong nghệ thuật không chỉ là tả thực. Cô bé nghe một cách lơ đễnh. Nó lấy bột màu trong hộp, chăm chú bôi lên các móng tay. Xòe hai bàn tay, ngắm nghía chán, nó lại hỏi: 

- Chú Viễn này, có phải đã là họa sĩ thì cái gì cũng vẽ được không?

- Nói chung là thế.

- Chú nói dối! - Cô bé bĩu môi - Chú có vẽ được mùi thơm không nào? Mùi lá bạch đàn chẳng hạn?

- Ừ, cái đó thì quả thật họa sĩ không vẽ được, nhưng đôi khi họ có cách làm cho người xem hiểu. Cháu hãy nghe câu chuyện này nhé. Đời Tống ở Trung Quốc có câu thơ rằng “Thưởng xuân quy lai mã đề hương”, nghĩa là “Chơi xuân về hương thơm vương gót ngựa”. Nhà vua treo giải thưởng tìm người chuyển được câu thơ ấy thành bức tranh. Thiên hạ đua tài. Những người vẽ con ngựa lội trong đám hoa đều là tay xoàng hết. Duy nhất một người làm đẹp ý vua. Trong bức tranh của người ấy không hề có hoa, nhưng ai xem cũng cảm thấy mùi thơm. Cháu biết tại sao không? Vì có bướm bay rập rờn theo gót ngựa!

- Tuyệt quá! - Nhi trầm trồ - Thế họa sĩ có vẽ được nỗi buồn không? Cháu tưởng tượng nỗi buồn màu xanh, nhưng bạn cháu lại bảo nỗi buồn màu tím cơ.

- À, chú chỉ vẽ được người đang buồn hoặc đang tư lự thôi. Còn tâm trạng, ý nghĩ cụ thể như thế nào, chú xin nhường tài cho các nhà văn.

- Nhà văn là những người lắm chuyện -  Cô bé lại bĩu môi - Có họ chỉ tổ làm cho cuộc sống phức tạp thêm. Trời mưa họ nói là “trời khóc”, đi ngủ quên không tắt đèn thì bảo “ngọn đèn thao thức”. Họ nói dối mọi người cứ như dối trẻ con, nhưng rất may là chả ai tin cả.

Viễn nhìn cô bé. Mắt anh cứ trợn ngược lên. Nó tảng lờ đi, miệng thao thao bất tuyệt:

- Trong lớp cháu có vài đứa thích văn thơ. Chúng nó sưu tầm những bài thơ tình be bé chép đầy những cuốn sổ tay be bé, có đứa chép cả lên đùi. Chúng nó bảo văn bây giờ  khó hơn cả toán, nhà văn biến hóa cứ như phù thủy. Có loại truyện “dòng ý thức” gì ấy, đọc như chui vào cái hang đen ngòm, vừa đi vừa phải dò từng bước. Thơ thì lắm bài sâu sắc quá, đọc vất hơn bổ củi. Không đọc thì thôi, cứ đọc là phát hoảng lên vì thấy mình dốt. Từ anh Thanh đánh cá, chị Lý sinh viên cho đến thầy giáo dạy văn của cháu đều nói thế. Thầy cháu bảo: “Nói thật, thầy cũng chả biết các nghệ sĩ phục vụ ai cả”. Nhưng chú yên tâm đi, sang thế kỉ hai mốt không còn văn học nữa rồi.

- Ai bảo cháu thế?

- Dạo mùa hè có bác nhà thơ về đây tham quan vùng hồ. Bác ấy ngồi bệt xuống bãi cỏ, nháy mắt, thế là bọn cháu ùa đến. Bọn cháu tháo trộm một chiếc thuyền, cùng bác ấy bơi ra tận đảo chơi trò ú tim. Bác ấy nghịch như quỷ. Cháu bảo: “Làm nhà thơ như bác sướng thật đấy! Đi đâu cũng được khối cô thích”. Bác ấy thở dài: “Có hai hòn ngọc, đi chiến trường đánh mất cả rồi, còn nước nôi gì nữa”. Bọn cháu ngớ ra, chẳng hiểu gì. Cháu lại bảo: “Nhưng mà bác được nổi tiếng”. Bác ấy lắc đầu: “Không, gay to rồi cháu ạ. Điện ảnh bây giờ mạnh lắm, nó cưỡi lên bụng văn học. Người ta đổ vào xem phim, chả ai thiết đọc sách của các bác nữa. Văn học đang thoi thóp, chỉ sang thế kỉ hai mốt là qua đời”. Mẹ cháu thì bảo: “Chúng mày đi chơi với lão ấy làm gì. Bọn nghệ sĩ toàn những thằng điên”.

Viễn ngồi im. Anh thấy tất cả đều xa lạ với mình. Vợ anh. Mẹ Nhi. Cả cô bé. Cả vùng hồ vàng hoe hoắt nắng, cả tiếng gió xạc xào trong bãi mía dửng dưng... Trong khoảnh khắc, anh thấy nghi ngờ chính bản thân. Trước mắt anh thấp thoáng con đường đam mê mờ bụi trắng dẫn về đâu xa lắc mơ hồ...

*

Một buổi chiều, cô bé Nhi đến rủ Viễn ra hồ. Mùa thu trải dọc ven hồ như một tấm khăn san sặc sỡ. Hơi thu hiu hắt trong sắc cỏ đỏ hung, trong lác đác lá khô đúc bằng vàng nguyên chất. Mênh mông bạch đàn uốn rạp thân mềm, thê thiết ru mình trong gió xanh.

Giữa núi đồi thăm thẳm tứ bề, hồ Thác Xanh như một tiếng thở dài trầm tư từ vách đá. Hồ xanh biếc một nỗi buồn, ẩn giấu trong lòng bí mật ngàn năm. Xa xa một chiếc tàu sơn trắng chạy băng băng, vẽ ra dải bọt trắng tinh như vệt tuyết.

Hai người men theo dải đất nâu đỏ ven đồi. Gió khua trong lau lách những tiếng reo lộng khô khan. Nhi vác chồng vó tôm, để lại trên đất những vết chân mịn màng thiếu nữ. Đến một quãng vắng vẻ khuất gió, Nhi bắt đầu thả vó. Những càng vó khum khum nở xòe trên mặt nước. Khoảng hồ vừa tắt nắng, nước lặng lờ thẳm xanh, nhưng dải đồi bên kia vẫn rực lên như được mạ vàng. Một anh đi cắm rọ tôm chèo thuyền ngang qua, vui vẻ kêu to: “Chào em Nhi, nàng tiên cá!”. Nhi cười: “Kính chào anh, hoàng tử cóc của đầm lầy!”.

Viễn thấy vui vui. Hình như ai cũng mến cô bé. Anh hỏi:

- Ở nhà cháu được bố mẹ chiều lắm nhỉ?

- Bố cháu là sĩ quan ở trong Nam, cả năm mới về một lần, có năm cũng chả về. Mẹ thì chẳng bao giờ nói chuyện với cháu, mà cháu cũng ít ở nhà. Mùa đông cháu theo đám bạn đi hớt tôm riu, hái quả chè, mùa hè vào rừng bóc măng nứa, có dạo ra công ti Thủy sản cất nước mắm về cho mẹ bán. Cháu còn thích ra đảo xa, thật xa chặt củi nữa cơ!

Nhi dùng cần vớt từng chiếc vó, khéo léo hắt tôm vào rổ. Viễn thả hồn trên trang sổ kí họa. Anh muốn để cuộc sống tươi rói, giãy đạp trên từng nét vẽ. Bắt một khoảnh khắc phải dừng lại trong nhiều năm, nhiều thế kỉ, đó là khát vọng muôn đời của họa sĩ. Khi ngẩng đầu lên, anh thấy cô bé đứng nhìn ra dải nước bạc mờ xa, vẻ mặt buồn buồn. Nó hỏi Viễn:

- Chú có trông thấy hòn đảo be bé đằng xa kia không?

- Cái chấm đen nhô trên vạch nước ấy à?

- Vâng. Cháu từng gặp một người tù ở đó chú ạ.

- Người tù? - Viễn ngạc nhiên.

Cô bé kể:

- Dạo nghỉ hè, có lần cháu theo anh Thanh mặt rỗ chèo thuyền ra đảo. Anh Thanh là em trai ông phó chủ tịch kiêm trưởng công an xã, chuyên đánh cá bằng mìn mua trộm. Đến đảo anh ấy đưa cho cháu bọc bánh mì ăn trưa rồi chèo thuyền đi chọn bãi đánh mìn. Đảo ấy toàn cây rậm. Chặt xong ba bó củi hu tươi, cháu nghỉ một tí rồi đi chơi quanh đảo. Thấy một cái hang be bé ăn sâu vào vách đá, lại thấy đàn kiến tha mảnh xương cá từ trong hang ra, cháu thấy lạ liền đánh bạo đi vào. Trong hang khô mà tối. Chợt thấy một mô đá đen rất giống hình người đang ngồi, cháu hoảng quá chạy ra. Cái mô đá ấy cũng chuyển động và một bàn tay túm lấy vai cháu. Một bộ mặt xâu xấu, đen như mặt quỷ cất tiếng khàn khàn: “Cháu đừng sợ”. Khi đã hết sợ, biết người ấy đang đói, cháu chạy xuống chỗ để củi lấy bánh mì. Túi bánh bị vồ lấy. Ăn xong, người đàn ông nhìn cháu chằm chằm và đột nhiên ứa nước mắt, kể chuyện đời mình. Trước kia chú ấy là cán bộ, do một mình chống lại những việc sai trái của những người có quyền chức mà bị trù dập. Ngôi nhà nửa đêm có người ném đá, đứa con gái bằng tuổi cháu bị xe chẹt nát chân do một tai nạn giao thông giả. Các đồng nghiệp im lặng, chỉ có một cô gái trẻ lên tiếng bênh vực chú. Ngay lập tức, cô ấy bị chuyển công tác lên một vùng heo hút. Uất ức quá, chú hành động liều lĩnh, bị họ lập mưu đẩy vào tù. Ở trong tù được tin cô gái kia mắc bệnh sắp chết, chú quyết định trốn trại đi gặp cô ấy lần cuối. “Con người tốt với nhau trong hoạn nạn, dù chỉ một chút cũng là ơn nghĩa để đời”, chú ấy nói thế. Hai ngày tạm lánh ở hang, chú chỉ vớt được một con cá chết vì mìn trôi vào đảo... Trong lúc kể chú ấy xúc động ghê gớm, người run bắn lên, bóp hai tay cháu đến tê dại. Mới đầu cháu sợ lắm, tưởng người này đã hóa điên nhưng khi sờ má mình mới biết nước mắt chảy từ lúc nào. Lúc cháu xuống thuyền, thấy mắt cháu đỏ, anh Thanh cứ hỏi gặng cháu và đòi lên đảo xem có chuyện gì nhưng cháu không cho. Cháu khóc vì thấy làm người sao đau đớn thế.

- Tại sao cháu tin người tù ấy? Cháu không sợ việc bao che cho người phạm pháp sao? - Viễn hỏi, giọng nghiêm nghị.

- Cháu không biết, nhưng cháu linh cảm chú ấy là người tốt - Cô bé bỗng tỏ ra bực bội - Không phải vì những giọt nước mắt, mà vì một cái gì khác. Đã có cuốn sách viết về nỗi oan khuất của người tù... Chắc chú biết cuốn tiểu thuyết có con chó Bi lưu lạc? Mà thôi... 

Nhi đột ngột im lặng. Từ đó đến lúc về tới nhà, hai chú cháu không nói với nhau câu nào.

Ngôi nhà gỗ nhỏ của mẹ con Nhi ẩn sau rặng bạch đàn thân trắng bên hồ. Từ mái ngói, hoa giấy um tùm đổ xuống sân như một dòng suối tím. Trên chiếc giường kê sát cửa sổ, mẹ Nhi nằm vắt một chân lên bàn. Chiếc quần lửng điểm hoa tụt xuống bẹn, lồ lộ làn da trắng hồng. Một tay chị ta buông thõng xuống đất, ngón tay kẹp mẩu thuốc lá tắt từ bao giờ. Chị ta thở đều, mắt vẫn mở he hé, vòm ngực căng phồng nhô lên hạ xuống theo nhịp thở. Trên bàn lổng chổng vỏ chai bia còn ngấn bọt ở đáy cạnh chiếc hộp kính đựng thuốc lá và chồng bánh kẹo, mì miến, pin đèn... Nhi vuốt má mẹ, nói như một người chị cả:

- Ngủ một giấc ngon lành rồi phải không? Trăng mọc trên đỉnh đầu rồi đấy. Chắc vẫn chưa nấu cơm chứ gì? Ừ thôi cứ ngủ đi, để đấy con nấu cũng được. À, hương nhu hái lúc chiều rồi đấy, ăn xong gội đầu một tí cho nó mát.

Chị ta thở phì vào mặt con gái, chép chép cặp môi dày: “Kệ mẹ tao”.

Nhi nhặt cái gối rơi dưới đất, phủi bụi, chèn vào gáy mẹ. “Lại say khướt với lão giám đốc nông trường đây mà”. Cô bé lẩm bẩm một mình rồi đi xuống bếp.

Viễn giúp nó nấu cơm. Hôm đó anh ăn bữa tối với mẹ con Nhi tại bếp. Mẹ Nhi ngồi dạng chân, nhìn anh chằm chằm như muốn nhai sống. Chị ta nói: “Thỉnh thoảng xuống đây chơi với tôi nhé. À với con Nhi”. Nhi lặng lẽ ăn, cả bữa chỉ nói một câu: “Tí nữa cháu cho chú làm quen với mấy người  bạn của cháu”.

Sau bữa cơm vài phút, Viễn nghe thấy tiếng động lạ ngoài cổng. Một đốm lửa đỏ lừ. Mùi khói thuốc lá thơm. Mẹ Nhi từ trên hè bước ra, lẩn vào đêm tối.

Anh đi vào nhà, thấy Nhi đứng trân trân giữa nền. Trong ánh điện tuýp sáng trắng, nom cô bé xinh đẹp lạ lùng. Chợt thấy mắt Nhi ngân ngấn nước, anh giả tảng quay đi, miệng hỏi: “Các bạn cháu chưa đến à?”. Nhi gượng cười, trỏ tay lên gác xép tối om: “Họ đợi ở trên đó cả rồi”. Viễn theo cô bé leo lên chiếc thang gỗ mọt, lòng linh cảm một điều khác thường.

Căn gác thoảng mùi hương dìu dịu như mùi cỏ khô. Trong bóng tối lờ mờ, anh thấy hiện ra rất nhiều sách. Những chồng sách đứng đó, đồ sộ, trang nghiêm, như đã có mặt ở đây hàng thế kỉ. Viễn bồi hồi đặt tay lên tấm bìa cứng một cuốn sách dày, thấy hơi lạnh thấm vào tay rờn rợn.

- Kho sách này bố cháu tích cóp từ thời thanh niên đấy - Nhi thầm thì, vẻ bí mật - Mẹ cháu mấy lần định đem bán giấy vụn, cháu dọa nhảy xuống hồ, thế là thôi.

Cô bé nhấc một cuốn trên chồng sách, thổi bụi bám trên bìa.

- Natasa là bạn thân của cháu trong truyện này. Chú có nhớ ra cô ấy không, cái cô gái muốn bay lên trời trong một đêm trăng ấy? Chao ôi, cái đêm trăng nơi trang ấp ấy sao mà tuyệt thế. Chú xem, cô ấy ngồi ôm chân tự nhấc mình lên như cháu đây này, thế mà cũng đòi bay! Đến là buồn cười, giống y tính cháu. Bay mãi rồi cũng rơi bịch xuống đất thôi, tâm hồn phụ nữ vốn chật hẹp mà. Cháu biết thừa ra! Cung cúc lấy chồng, đẻ con, thế là hết.

“Còn bây giờ, cháu cho chú làm quen với Gulia nhé”. Miệng nói, tay Nhi lần theo các gáy sách, rút ra một cuốn. Vì tối, Viễn không nhìn rõ bìa sách. Không hiểu sao nó tìm ra được.

- Tính Gulia mạnh mẽ hiếu động như chú ngựa con, rất hợp với cháu - Cô bé sôi nổi - Cháu thích nhất cái đêm đốt lửa trại bên biển ấy, khi mọi người ngủ say Gulia chạy vào rừng rậm, bị cây móc mèo nó cào cho. Chị ấy không điên tí nào đâu, tự thử lòng can đảm đấy thôi. Chú thấy đáng yêu không? Cháu gặp chị ấy thường xuyên, trong mơ ấy mà. Chị ấy trêu cháu là đồ bắt chước, tệ thế! Còn một người bạn khác, nó trốn trong chồng sách thứ tư, quyển số mười hai từ trên xuống, cháu sẽ tìm ra ngay thôi. A, đây rồi. Gừ! Gừ! Mày có nhớ tao không? Sao cái đuôi mày bám đầy hoa điểm tuyết thế? Chú Viễn ơi, nó sống thủy chung mà chết thảm quá. Nó là con Bim trắng tai đen đấy...

Khuôn mặt cô bé nhòa đi trong mắt Viễn. Anh mơ hồ nghe tiếng gọi từ đâu đó rất xa vẳng qua màn sương tiềm thức. Bên tai anh, tiếng gió rít vù vù. Anh thấy mình đang ngồi trên cỗ xe tam mã chạy băng băng qua thảo nguyên, qua rừng tai-ga trắng xóa tuyết dâng, qua rừng phong mênh mông đỏ rực. Trên xe lấp lánh những gương mặt thời thơ ấu. Timua nắm tay cô bé bán diêm. Các chú bé của Amicis trao cho anh một lẵng phúc bồn tử... Bất thần bão tố ập đến, bóng đêm tràn tối đen. “Tiến lên, các con!” - tiếng thét của cụ già Vitali khàn đặc. Từ đâu trong bóng tối, một cỗ xe khác hiện ra, bay vùn vụt. Trên xe, Giamilia và anh thương binh đứng bên nhau cùng hát. Gió hú. Sấm nổ. Cỗ xe nghiêng ngả. Ngựa hí vang. Danko bỗng vượt lên dẫn đầu đoàn xe, tay giơ cao trái tim phụt cháy. Những tia lửa xanh lam bắn ra. Bóng đêm ầm ào tan chảy, và chân trời mênh mang hiện trước mọi người...

Nhi vẫn hào hứng sôi nổi. Viễn cầm tay cô bé:

- Ở đây tối lắm, nhưng chú nhận ra các bạn cháu cả rồi. Họ cũng là bạn chú ngày xưa thôi. Nhi này, vậy mà chú tưởng cháu thờ ơ với văn học đấy. Cả hội họa nữa.

- Hôm nọ cháu cố tình trêu chú đấy thôi - Nhi nhoẻn cười, ánh răng lấp lánh trong bóng tối.

Căn nhà nhỏ chìm trong không khí tĩnh mịch của đêm thu. Đã khuya, mẹ Nhi vẫn chưa về. Rì rầm ngoài kia, tiếng sóng hồ trầm đục xô vào bãi. Ánh sáng từ mặt hồ lan tỏa vào đêm, làm cho bóng đêm trở nên trong suốt dịu dàng. Xa xa có tiếng ù ù từ rừng bồ đề đưa lại. Hình như khu rừng rụng lá suốt đêm.

Nước mắt Viễn ứa ra. Anh hiểu vì sao mình khóc. Anh hỏi Nhi, giọng khàn hẳn:

- Chú thấy cháu vất vả bận bịu thế, thời gian đâu mà đọc sách?

- Cháu đọc từ hồi bé. Ngày ấy bố cháu còn công tác ở ngoài này, chiều cháu lắm. Bố cháu bảo: “Hãy đọc sách đi, nếu con muốn trở thành người tốt. Sở dĩ có những đứa đê tiện, chật hẹp, nhỏ nhen vì chúng không được đọc nhiều từ bé. Đọc ngấm rồi, lớn lên dù muốn cũng không sống ác được đâu”.

*

Mấy ngày sau, Viễn trở về thành phố. Buổi sáng hôm anh đi, tiết trời se lạnh, sương trắng nhờ nhợ trên hồ. Anh không gặp được Nhi. Cô bé phải đi học.

Ngồi trên tàu thủy, Viễn mở chiếc phong bì hôm trước cô bé tặng anh. Giữa mảnh giấy gấp đôi chỉ có chiếc lá bạch đàn đỏ úa.

Hơn hai năm sau, trong một lần rất tình cờ, Viễn được nói chuyện với người tù Nhi gặp trên đảo. Anh ta đã mãn hạn. Người đàn ông ấy nói: “Vậy là cô bé không kể hết với anh. Đêm hôm ấy khi đi tắm về, tôi thấy tại cửa hang một bộ quần áo lính đã cũ cùng túi thức ăn và một ít tiền. Tôi chạy vội xuống hồ nhưng không kịp, chỉ còn nghe tiếng mái chèo khỏa nước xa dần trên mặt hồ tối sẫm. Sau ngày đó tôi quyết định trở lại trại giam. Tôi không thể hành động liều lĩnh nữa. Sự xuất hiện của cô bé tốt bụng ấy làm tôi nghĩ lại. Tôi phải sống. Vì lẽ phải và vì biết bao con người nhân hậu trong cuộc đời” .

Câu chuyện làm Viễn thêm nhớ ngôi nhà nhỏ nhiều sách tại vùng hồ nắng gió nơi anh đã sống những ngày ngắn ngủi vào cuối thu, và nhớ cô bé đáng yêu có cái bĩu môi xinh xắn ấy. Đôi lúc Viễn băn khoăn tự hỏi: “Không biết cuộc đời nó sẽ ra sao?”.

Có một điều anh biết rõ rằng, chính từ khu vườn đầy hương thơm của văn học, cái tâm hồn bé bỏng ấy đã vỗ đôi cánh ngập ngừng, trong suốt, để rồi bay mãi vào bầu trời xa thẳm.

Nhà văn Phạm Duy Nghĩa

Sinh 11-1-1973 tại Yên Bái

Tiến sĩ văn học

Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam

Hiện là Trưởng Ban Lí luận - phê bình của Tạp chí Văn nghệ quân đội

Giải Nhất cuộc thi truyện ngắn báo Văn nghệ (Hội Nhà văn Việt Nam) 2003-2004

Đã xuất bản một số tập truyện ngắn và chuyên luận nghiên cứu văn học.