Thứ 6, 22/09/2017 - 15:10 | Vàng = 33.820 VND

Lời xưa ngẫm lại trong đêm giao thừa

23-02-2016 | 10:28
Ở nước ta mỗi một năm có khá nhiều cái Tết. Nhưng chỉ nói đến một từ “Tết” thôi là lập tức chúng ta nghĩ ngay đến Tết Nguyên Đán - một cái tết đặc biệt, thiêng liêng nhất đối với mỗi người con đất Việt. Chuyện về cái tết này có lẽ chúng ta sẽ còn nói mãi, dễ đến cả ngàn năm sau cũng không hết. Thôi thì ta thử quay ngược thời gian một chút, “ôn cố tri tân”, lục tìm trong quá khứ để suy ngẫm về những lời nói xưa của ông cha ta về sự kiện này

 image

CÓ MÀ ĐẾN TẾT!

Lâu đến thế hay sao?       

Trong nói năng hàng ngày, ta thường nghe mọi người nói với nhau: “Chuyện ấy đâu dễ như thế được. Cứ đợi đấy, có mà đến Tết may ra mới xong!”; “Làm đủng đa đủng đỉnh như ả chơi giăng thế kia thì có đến Tết cũng chả xong”... Đến Tết ở đây có nghĩa là còn lâu, rất lâu chứ không phải là một khoảng thời gian ngắn được. Ta cũng còn thấy nhiều tổ hợp khác gần nghĩa với cụm từ này, như Còn lâu nhé,có mà đến mục thất chưa xong; Có mà ăn ba cót thóc nữa cũng chưa xong... Còn các em thì sao? Chắc các em (nhất là các bạn nhỏ) chắc là mong Tết đến lắm, để có quần áo đẹp, được ăn bánh trái và được nhận “lì xì”... Chà, vui thật đó!

Tết (đọc chệch âm của từ tiết, như  tiết Lập Xuân, tiết Kinh Trập, tiết Đoan Ngọ...) là một sự kiện đặc biệt có liên quan tới nhiều nhân tố (về thời gian, khí hậu, phong tục tập quán...) của mỗi dân tộc. Những tiết thực sự quan trọng và gắn với nghi thức lễ hội được gọi là Tết. Việt Nam (và một số nước châu Á) có thói quen đón nhiều cái tết: Tết Nguyên Đán, Tết Nguyên Tiêu, Tết Hàn thực, Tết Trung thu,... Tuy nhiên, cái tết lớn nhất, thiêng liêng nhất, hội đủ mọi ý nghĩa đặc sắc nhất vẫn là Tết Nguyên Đán (Nguyên Đán: buổi sáng đầu năm). Đó là lúc con người và trời đất ở thời khắc bắt đầu chuyển sang một năm mới (âm lịch). Nó là cái mốc để lại dấu ấn đậm nét về văn hoá tâm linh. Tín ngưỡng dân gian cho rằng mọi điều may rủi, mọi cơ hội làm ăn, thăng tiến hay phát tài phát lộc đều xuất phát từ những sự kiện mở màn của năm mới này.

Vậy thì, cứ mỗi một năm cũ qua là ta lại đón nhận một năm mới. Tuy nhiên, một năm với khoảng 365 ngày kia có gì là dài lắm đâu nhỉ? Xuân hạ thu đông, cứ bốn mùa là tạo vật lại trở lại theo chu kì cũ thôi mà. Nhưng, từ xa xưa, để đi từ cái tết này sang cái tết khác dân gian ta đã trải qua một hành trình nhiều gian khó. Phải lo làm ăn, hai mùa nông nghiệp với bao nhiêu trắc trở của thiên tai địch hoạ rình rập. Muốn ăn Tết cho vui vẻ, đủ đầy, trọn vẹn, mỗi gia đình phải lo gom góp chuẩn bị rất nhiều thứ: nhà cửa, gạo thóc, đỗ đậu, lợn gà... Và nói chung, muốn thế, người dân phải lấy cái đích tết sắp đến đó để mà lo phấn đấu, lo làm ăn quần quật cả năm. Sự khó khăn vất vả làm cho sự trông đợi kia cứ như rất dài, rất gian nan, trắc trở, mong chờ mỏi cả mắt. Đợi cho đến được Tết quả là một thời gian quá lâu, nhất là đối với những trẻ em hay những người nghèo khó. Già được bát canh, trẻ được manh áo mới. Ôi cái tết kia cứ khắc khoải như một niềm ao ước với bao người. Nó vừa rất hiện thực gần gũi (như bánh chưng, giò mỡ, dưa hành…), vừa rất thiêng liêng (như cành đào, câu đối, lời chúc sớm mai…). Từ Tết đi vào tâm khảm của mỗi người dân Việt Nam như một sự kiện hàm chứa nhiều ý nghĩa thuộc về tình cảm, tâm linh, nỗi khát vọng về một cuộc sống đủ đầy về vật chất, phong phú đẹp đẽ về tinh thần mà người ta luôn hướng tới.

Chính từ những sự kiện đặc biệt của Tết Nguyên Đán ấy mà dân gian ta đã tận dụng nội hàm này để biểu trưng hoá trong thành ngữ  “Có màđến Tết”. Ồ, ngày xửa ngày xưa, dân gian ta mong cho đến ngày tết quả là lâu thực. Giờ đây, cái tết cũng không còn phải chuẩn bị mất nhiều công sức như trước nữa. Sự trông đợi có lẽ cũng không còn mỏi mòn đằng đẵng như thuở xa xăm. Nhưng câu thành ngữ với nét nghĩa biểu cảm trên vẫn tồn tại trong tâm khảm của mọi thế hệ con người Việt Nam thời hiện đại, nhắc nhở ta nhớ lại một thời gian khó. Tết vẫn luôn luôn là một sự kiện trang trọng và thiêng liêng với mọi người:

Tết chẳng riêng ai, Tết mọi nhà

Quê hương, làng xóm, ông bà tổ tiên...

(ca dao)

 

GIAO THỪA - TRỪ TỊCH

Sao lại là “thừa? Và là “trừ” hay “cộng?

Nhiều em nhỏ đã tròn mắt hỏi người lớn như vậy khi nghe nhắc tới cụm từ phút (giờ, lúc) giao thừa hay đêm trừ tịch. Giao thừa là thời khắc thiêng liêng nhất, một năm chúng ta chỉ chứng kiến một lần. Nó trôi qua nhanh đến nỗi nhiều người không dám đi ngủ, cố thức hoài vì sợ không có cơ hội chứng kiến. Nhưng sao lại gọi là giao thừa (chứ không phải là giao thiếu)? Trong trí óc non nớt của trẻ thơ có thể có thắc mắc như vậy. Đây là một từ Hán-Việt gồm hai thành tố. Giao có nghĩa là “đan xen nhau, thay nhau, nối tiếp nhau hoặc trao cho nhau” (Như trong các kết hợp: giao dịch, giao điểm, giao phó...). Còn thừa có nghĩ là “gánh vác hay kế tiếp, thừa kế...” (thừa hành, thừa lệnh, thừa kế...). Giao thừa có nghĩa chung là “nhận lấy sự chuyển giao”. Theo quan niệm của tín ngưỡng dân gian, thì thời khắc cuối cùng của năm cũ (đúng 12 giờ đêm ngày 30 tháng Chạp âm lịch) là lúc mà hai vị thần cai quản thiên hạ, gọi là ông Hành khiển (một cũ và một mới) làm công việc “bàn giao và tiếp nhận” mọi việc trông coi nơi hạ giới. Vào giờ này, người ta làm lễ cúng Thiên Địa (xôi, gà (thủ lợn), rượu, hoa, nước lã, vàng mã...) để cầu mong các vị thần ban cho mình tài lộc và hạnh phúc trong năm mới. Do vậy mà lễ cúng được thực hiện lộ thiên ngoài trời. Vì theo quan niệm, hai vị thần này phần vì bận, không ghé thăm lâu, phần vì kiêng bàn thờ tại gia, vốn chỉ dành để cúng lễ ông bà tổ tiên.

Đêm trừ tịch cũng chính là đêm 30 tháng Chạp. Theo nghĩa Hán - Việt, trừ là “bỏ đi, qua đi”, tịch là “đêm”. Nghĩa chung của trừ tịch là “đêm của năm (sẽ) qua đi”. Vậy nói đêm trừ tịch là người Việt ta đã dùng thừa một chữ đêm. Ta nghe đã quen đến nỗi nếu chỉ nói trừ tịch không có vẻ chưa trọn ý. Về mặt ngôn ngữ học, đó cũng là một độ dư cần thiết, khi đã dùng quen, ta có thể chấp nhận vì thành tố này mang sắc thái nghĩa bổ trợ (như ta vẫn nói cây cổ thụ (thụ = cây), bà quả phụ (phụ = người phụ nữ), ngày sinh nhật (nhật = ngày),...

Giao thừa - giây phút chuyển giao

Nghe trong hương gió xôn xao đất trời

Cho ta yêu mãi cuộc đời

Quê hương, làng xóm khắp nơi chan hòa...

 

NGÀY BA MƯƠI TẾT
THỊT TREO TRONG NHÀ

Chắc mỗi người dân Việt Nam chúng ta đều biết đến một bài ca dao quen thuộc:

Số cô chẳng giàu thì nghèo

Ngày ba mươi Tết thịt treo trong nhà

Số cô có mẹ, có cha

Mẹ cô đàn bà, cha cô đàn ông

Số cô có vợ, có chồng

Sinh con đầu lòng chẳng gái thì trai

Mục đích của bài ca dao là nhằm chế giễu những ông thầy bói nói dựa ngày xưa. Rằng lời của ông “phán” kia chẳng có gì đáng nói, nó cũng hiển nhiên như mọi lẽ thường ở đời vậy. Logic của các sự tình ở đây đã minh chứng cho điều ấy. Ấy là, Ai sống trên cõi đời này sẽ rơi vào một trong hai khả năng: không giàu thì sẽ nghèo (hiển nhiên là vậy rồi); thế nào cũng có mẹ và có cha (chứ sinh ra từ đâu?); mẹ và cha thuộc hai giới tính khác nhau - đàn bà và đàn ông (còn gì để bàn cãi nữa?); ai cũng lấy vợ hoặc lấy chồng (chuyện hẳn là như thế); và sẽ sinh ra hoặc con trai, hoặc con gái (chứ sinh ra con gì?), v.v. Những chuyện tưởng “xưa như trái đất” như vậy lại được mấy ông thầy bói ăn nói nước đôi cứ như là chân lí mới được phát hiện vậy. Quả là buồn cười phải không?

Trong các sự tình ấy, có một sự tình mà bây giờ không còn là một chân lí hiển nhiên nữa. Đó là chuyện “ngày ba mươi Tết thịt treo trong nhà”. Đây là câu chuyện mà muốn hiểu cho rõ, ta phải lần tìm trở lại trong lịch sử.

Ngày xưa, chuyện đói ăn, đói mặc là thường tình. Cuộc sống khó khăn, người dân chỉ lo sao cho ăn đủ no, mặc cho đủ ấm. Vì vậy, có cơm ăn đã là quý, còn chuyện thịt thà cá mú thì thật xa vời. “Cơm thơm ăn với cá kho” với nhiều người chỉ là trong mơ. Nhưng có một điều là, dù đói khổ đến mấy thì đến Tết, nhà nào cũng phải lo cho được một nồi bánh chưng, mấy cái giò (giò mỡ, giò lụa, giò thủ, giò lòng…), các loại bánh và hoa quả khác nữa… Đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết mà! Quan niệm dân gian cho rằng, mọi điều may mắn (hay xui xẻo) đều bắt đầu từ năm mới. Đầu năm mới mà nhà cửa tươm tất, mọi người lớn bé già trẻ đều khỏe mạnh, có quần áo mới để trưng diện, trong nhà có đầy đủ thịt thà, bánh trái, thức ăn ê hề… thì cả năm sẽ sung túc, đủ đầy, làm ăn phát đạt. Vậy cho nên, khó khăn đến mấy thì khi đến Tết, người ta cũng đều phải chạy vạy, sắm sanh cho bằng được mọi thứ mang hương vị Tết. Phải làm sao cho bằng anh bằng em, cho bằng hàng xóm láng giềng. Thật khó tưởng tượng là vào ngày 30 Tết - ngày cuối cùng của năm âm lịch - mà trong một gia đình nào đó lại thiếu “thịt treo trong nhà”, trên bàn thờ lại khói hương nguội lạnh. Như vậy, không chỉ là dấu hiệu của sự nghèo khổ sắp tới trong năm mà còn là biểu hiện của sự bất kính với ông bà, tổ tiên - điều mà theo tín ngưỡng dân gian là không chấp nhận được.

Cuộc sống ngày nay đã khác. Bây giờ, chuyện ăn “bánh chưng, thịt mỡ, dưa hành” có thể thực hiện bất cứ lúc nào chứ chả cần đợi đến Tết. Do đời sống vật chất đã thay đổi tới mức “chóng mặt”. Việc sắm sanh chỉ có vào ngày Tết năm xưa giờ đây có thể cần ra chợ là có ngay. Chính vì vậy mà chẳng cần đợi đến ba mươi Tết, người ta vẫn sẵn sàng sắm ngay không thiếu một loại thức ăn “cao lương mĩ vị” nào (như thịt, cá, bánh, kẹo... các loại). Mà chẳng cần treo trên gác bếp. Tất cả đều “yên tâm” nằm trong tủ lạnh mà không lo một trận gió nồm là có thể làm ôi thiu hàng loạt.

“Ngày ba mươi Tết thịt treo trong nhà”. Chà, lời phán của ông thầy bói ngày xửa ngày xưa còn hiệu nghiệm thì bây giờ thành vô giá trị. Đó là thực tế cuộc đời. Nhưng ngẫm lại, ta vẫn thấy thấm thía khi hình dung về bao nỗi lo toan vất vả mà ông bà cha mẹ ta xưa phải thực thi mỗi khi Tết đến Xuân về. Chuyện của quá khứ đã qua trở thành bài học cho ta nhìn lại để thêm yêu, thêm quý những gì đang có trong cuộc sống hôm nay.

Lời ông thầy bói năm xưa

Vẫn còn văng vẳng như vừa hôm qua

Ngày ba mươi Tết đến nhà

Bánh chưng khôngngại, thịt thà không lo

Chuyện ngày xưa tưởng nằm mơ

Thành điều đơn giản bây giờ, đó em! 

CÂU ĐỐI MANG THEO
CẢ NỀN VĂN HOÁ

Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ

Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh

Đó là câu đối miêu tả đầy đủ nhất sáu món ăn, vật dụng cần thiết cho một cái Tết xưa. Ngày nay, chúng ta không còn thói quen đốt pháo nữa (để đảm bảo an toàn) thì năm thứ còn lại (thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ, cây nêu, bánh chưng xanh) cũng đủ mang lại một hương vị Tết “đậm đà bản sắc dân tộc” lắm rồi. Cây nêu dựng trước sân nhà có giá trị trừ ma quỷ, đưa đường cho các cụ về nhà ăn Tết cùng con cháu. Câu đối treo trang trọng nơi gian giữa, hai bên bàn thờ thờ cúng tổ tiên. Trên nền giấy đỏ, người ta thường chép hai câu đối ngắn gọn, hàm súc với hai vế đối nhau chặt chẽ. Đó là những tổng kết, những chiêm nghiệm, những mong muốn tốt đẹp nhất cho mọi người trong năm mới. Nhìn câu đối, ta thấy “hồn dân tộc sáng bừng trên giấy điệp” (Hoàng Cầm).

Dĩ nhiên, bánh chưng với thịt mỡ, dưa hành là những món ăn không thể thiếu. Bánh chưng gói bằng gạo nếp cái, luộc rền, khi bóc ra phía ngoài xanh mướt màu lá dong, thơm một mùi rất đặc trưng, quyến rũ. Còn thịt mỡ và dưa hành là hai thứ ăn rất hợp. Nó có giá trị không chỉ hợp khẩu vị ẩm thực dân gian mà lại rất hợp với nhu cầu dinh dưỡng. Dưa hành nén kĩ, chua dịu, hơi cay...  có tác dụng đưa đà trong bữa ăn, rất có lợi cho tiêu hoá, đặc biệt là  các món giò, nem, ninh, mọc hay món thịt mỡ thái dầy vốn nhiều chất béo, khó tiêu. Hoá ra, ông cha ta cũng biết chọn món ăn đi cùng nhau một cách khoa học đấy chứ. Mâm cỗ mỗi gia đình ngày Tết hội đủ mọi món  “tự cấp tự túc”, “cây nhà lá vườn” của kinh tế nông nghiệp: thịt các loại, cá tôm, rau củ các loại, nhất là rau thơm thì hết sức đa dạng. Khi bày ra, ta có một mâm cỗ đủ đầy, nhiều món ăn, nhiều màu sắc, chỉ nhìn qua đã thấy hấp dẫn. Các món ăn trong ngày Tết  cổ truyền Việt Nam vừa kể rõ ràng ẩn chìm trong đó tất cả những tinh hoa văn hoá của người Việt. Nó vừa là tín ngưỡng, là văn hoá thẩm mĩ, là văn hoá ẩm thực và xa hơn, nó hàm chứa trong mình những triết lí sâu xa về con người và trời đất núi sông.

Bánh chưng, xanh đến bây giờ

Đồng hành cùng những vần thơ thuở nào

Nghe hồn dân tộc bay cao

Quê hương ngày Tết biết bao nghĩa tình...

>>PGS TS PHẠM VĂN TÌNH