Thứ 7, 25/11/2017 - 12:23 | Vàng = 33.820 VND

Dưới sức nặng của quá khứ

05-04-2013 | 08:05
Anne Enright sinh năm 1962 ở Dub­lin, học tiếng Anh và triết ở Trin­ity Col­lege, Dub­lin, và học tiếp lấy bằng thạc sĩ về sáng tác ở Đại học East Anglia. Bà có lúc làm nhà sản xuất chương trình truyền hình. Cuốn sách đầu tiên của bà là tập truyện The Port­able Vir­gin (Tượng Mẹ đồng trinh xách tay), ra đời năm 1991, và đoạt giải Rooney của văn học Ireland. Hai tập truyện kế đó, Tak­ing Pic­tures (Chụp hình) và Yesterday’s Weather (Thời tiết hôm qua) được xuất bản năm 2008. Các tiểu thuyết của bà là The Wig My Father Wore (1995; Mái tóc giả cha tôi đội); What Are You Like? (Trông bạn ra sao?) đoạt giải Encore Award 2001; The Pleas­ure of Eliza Lynch (2002; Niềm vui của Eliza Lynch); và The Gath­er­ing (2007; Họp mặt) đoạt giải Man Booker cho truyện năm 2007.

 

 

Họp mặt kể về những ngày Veronica - nhân vật xưng “tôi” - đi chở xác anh trai mình, Liam, người đã tự tử ở Anh, về quê nhà ở Ireland. Cuộc họp mặt ở đây là ngày canh xác ông anh đó của các anh chị em trong nhà mẹ của họ trước khi đưa đi an táng. Đó là một trong những lần họp mặt hiếm hoi sau khi mọi người đã trưởng thành và mỗi đứa một nơi.   Tiểu thuyết chẳng có cốt truyện, biến cố kịch tính, cao trào hay thắt nút mở nút gì cả (một đặc điểm thường gặp trong văn học hiện đại). Phần lớn những điều Veronica kể với người đọc trong tác phẩm này là xảy ra trong trí óc, hay tâm thức, của bà, còn hành động thực chỉ toàn những chuyện vặt (lái xe, uống rượu, mua sắm, ngủ, vào phi trường, vân vân), không tạo ra diễn biến gì đáng kể.    Vì là lần họp mặt hiếm hoi giữa các anh chị em ruột, tại nhà mẹ của họ, nơi họ sống từ bé, nên nó là bối cảnh rất thuận tiện cho những ý nghĩ về quá khứ của chính Veronica, về các anh chị em khác, rồi cả gia đình, từ bà mẹ tới bà ngoại.   Veronica là con thứ bảy trong một gia đình đông anh em, 12 người, chưa kể bảy lần mẹ bà sảy thai. Vì là đứa con ở giữa một lũ con đông, không phải con cả hay con út, nên Veronica thường đóng vai phụ trong hầu hết biến cố trong gia đình – một vai phụ nhỏ đến độ lắm khi bà như người ngoài, nhìn vào những sự kiện đó một cách khách quan, không cảm thấy mối dây liên hệ hay có cái nhìn thiên vị dòng tộc mình. Yếu tố này góp phần giải thích những ý nghĩ lạ lùng của bà về quá khứ của gia đình.   Gia đình bà theo Công giáo, như phần lớn dân Ireland – một dân tộc bị người Anh (phần lớn theo Tin Lành) áp bức bao thế kỷ và cho đến nay vẫn khó chịu với người Anh, nhưng đồng thời cũng bị áp lực của sức đồng hóa từ nước Anh với một nền văn hóa phát triển hơn và một ngôn ngữ phổ biến hơn.   Qúa khứ, hay truyền thống và lịch sử, kể cả nền giáo dục và nếp suy nghĩ – nói chung là tất cả những gì tích tụ trong mỗi người theo thời gian, một cách vô thức hoặc có ý thức – dù vinh quang hay rực rỡ đến đâu, đều dễ dàng trở thành khuôn phép, quy ước, ràng buộc con người, nhất là tư tưởng của họ. Đến một lúc nào đó, do ảnh hưởng của kiến thức và tư tưởng mới, con người có thể cảm thấy quá khứ là một gánh nặng và có nhu cầu gỡ bỏ nó và tự giải phóng mình, thay vì để quá khứ hay truyền thống khuôn định mình. Đó là điều ta thấy trong ý nghĩ của Veronica trong truyện này.   Gia đình, cha mẹ, hay dòng tộc, thường được coi trọng đến mức gần như linh thiêng, như những giá trị không thể hồ nghi và cần được bảo vệ, thậm chí bảo vệ bằng mọi giá. Nhưng ta thấy Veronica thường nghĩ về mẹ mình, và cả bà ngoại mình, ở góc độ tình yêu, nói rõ hơn là tình dục. Bà nói về mẹ mình: “tôi không tha thứ cho bà chuyện tình dục. Sự ngốc nghếch của việc làm tình quá nhiều.” (Khó có ai dám nghĩ về cha mẹ mình với hình ảnh họ hì hục làm tình, có bầu liên tục, và đẻ ra cả đống con). Còn về cha mình, Veronica nghĩ, “Ông quả có yêu mẹ tôi… Nhưng ông không yêu bà tới mức để cho bà được yên.” Ông làm tình liên tục để tạo ra tới 12 đứa con và bảy lần sảy thai trong thân thể bà. Ông làm tình vì “nó chỉ là điều ông cần làm, hoặc muốn làm; nó chỉ là điều mà ông cảm thấy mình đáng hưởng.”   Veronica còn nghĩ về quan hệ tình cảm của bà ngoại, dành cả một chương và nhiều đoạn rời khác để nói về mối tình hồi trẻ của bà ngoại, nhưng tất cả chỉ do bà tưởng tượng ra dựa trên vài ký ức mơ hồ và mấy giấy tờ thuê mướn nhà còn giữ được trong gia đình (việc bịa đặt lịch sử này, theo thuật ngữ văn học, được gọi là lịch sử ngụy tác). Bà còn tưởng tượng lúc về già, bà ngoại mình và Nugent, người được Veronica cho là thầm yêu bà ngoại Ada suốt cả đời, có thể đã làm tình với nhau thế nào.   Truyền thống Công giáo cũng bàng bạc trong cuộc sống của Veronica. Những câu trong Kinh Thánh được phát biểu rất bình thường, hay tình cờ, đôi khi bị bóp méo qua giọng trẻ con để mang những ý nghĩa khác, nghĩa là, những câu đó rất quen thuộc với mọi người trong thế giới của Veronica. Như chúng ta biết, trẻ con Công giáo được học giáo lý cùng lúc với học chữ, và tôn giáo này cũng là một giá trị linh thiêng bất khả xâm phạm đối với tín đồ. Và ở Dublin, như Veronica kể, từng có phong trào của nhà thờ nhằm dẹp nạn bán dâm trong thành phố. Nhưng Veronica cũng không đành lòng sống như vậy. Bà từng hỏi cha: “Nếu Đức mẹ Đồng trinh Maria được đưa cả hồn lẫn xác lên trời, vậy Đức mẹ đi vệ sinh ở chỗ nào?” Câu hỏi này khiến bà lãnh một bạt tai của cha mình, nhưng bà lại xem đó là “bằng chứng duy nhất tôi nắm giữ cho thấy cha tôi là người Công giáo.” Vì, cho dù còn nhỏ, bà đã thấy việc đi nhà thờ và giữ đạo của gia đình bà hầu như chỉ là hình thức. Một kỷ niệm khác với nhà thờ của Veronica là việc nhìn thấy một người đàn ông bị bệnh giang mai – một thứ bệnh lây qua đường tình dục - trong buổi thánh lễ.   Những chi tiết kể trên khiến ta có cảm giác Veronica dùng tình dục (chứ không phải văn chương gợi dục hoặc khiêu dâm) để bình thường hóa, hoặc tầm thường hóa, gia đình và tôn giáo. Tình dục – nhất là khi mô tả sinh hoạt tình dục mà không hề có bóng dáng tình yêu - có vẻ là một vũ khí hữu hiệu để “giải thiêng” hay “giải hoặc”, nếu nói theo thuật ngữ văn học hiện đại. Đây là thủ pháp thế tục hóa phổ biến và được tác giả sử dụng rải rác suốt trong tác phẩm.   Ngay ở trang đầu, Veronica nói rõ với người đọc: “Tôi muốn ghi lại những gì đã xảy ra tại nhà bà ngoại tôi hồi mùa hè năm tôi tám chín tuổi gì đó, nhưng tôi không chắc liệu nó có thực sự xảy ra không. Tôi cần bằng chứng cho một sự kiện không chắc chắn.” Đây là một câu đơn giản nhưng ta có thể thấy nhiều ý nghĩa trong đó.   Bà muốn kể lại chuyện trong quá khứ, những thứ đã trở thành lịch sử (với nhà văn hiện đại, lịch sử cá nhân hoặc gia đình cũng quan trọng không kém lịch sử cộng đồng), nhưng kể trong tâm trạng hoài nghi. Và giọng hoài nghi này xuất hiện thường xuyên trong tác phẩm. Veronica luôn thấy rằng chuyện gì đó có thể đã xảy ra có thể không, và luôn tự hỏi đâu là sự thực.   Ngay cả sự kiện kinh khủng; chuyện “đã xảy ra tại nhà bà ngoại tôi hồi mùa hè năm tôi tám chín tuổi gì đó” (việc Nugent lạm dụng tình dục Liam) và thậm chí hàm ý rằng đó chính là nguyên nhân đẩy Liam vào con đường đi hoang, nghiện rượu, rồi tự sát; thì phải đến quá nửa tác phẩm bà mới kể ra được, nhưng Veronica vẫn hồ nghi không chắc hình ảnh mình nhớ được là có thực hay không, hay nó đã xảy ra với bà chứ không phải với Liam.   Khi nghĩ về Liam, Veronica thấy rằng tài năng lớn của anh ấy là “phơi bày những lời nói dối.” Nhưng bà còn phải làm một việc cực nhọc hơn: phơi bày sự thực (tức là, kể lại vụ lạm dụng tình dục cho mọi người biết). Trong lúc anh chị em họp mặt, uống chút rượu, nói và làm đủ những chuyện bâng quơ, mỗi khi nghe câu “Cái gì?” của người khác hay của chính mình, Veronica đều diễn dịch thành câu “Sự thật thì ích gì cho chúng ta lúc này?” Cảm giác bất định này khiến Veronica hoang mang, chạy trốn mọi người, và trăn trở mãi đến tận cuối truyện mới quyết định được mình phải kể sự thật này ra. Như thế, qua ý nghĩ của Veronica, độc giả đối diện một mớ bòng bong gồm những sự kiện có thực và tưởng tượng đan xen, trộn lẫn vào nhau, trong khi tác giả không hề cố gắng phân định chúng rạch ròi ra.   Một trong những trăn trở của nhân vật chính trong rất nhiều tác phẩm hư cấu hiện đại là nỗi lo sợ rằng cuộc đời mình đã bị lập trình bởi người khác, hay bởi những yếu tố ngoại tại (quá khứ, nền giáo dục, gia đình, tôn giáo, vân vân). Thuật ngữ văn học gọi tâm trạng này là tính cách đa nghi hoang tưởng (paranoia). Nhân vật luôn mưu tìm chân lý nhưng lại đa nghi tới mức không dám tin vào sự thực nào cả. Điều này khiến người đọc phải đối diện một điều hiển nhiên: ý nghĩa của cuộc đời, sự kiện, hay tác phẩm, qua cách tác giả trình bày, là phải do chính mình tìm ra. Các tác giả hiện đại từ chối không chịu đưa ra (tức là áp đặt) một lý giải hay ý nghĩa hoàn chỉnh nào cho bất cứ điều gì họ viết ra, bất cứ câu chuyện nào họ kể lại.   Áp lực từ những yếu tố ngoại tại nói trên mạnh tới nỗi phần lớn cuộc đời chúng ta là hành động theo ý người khác (cha mẹ, vợ con, dòng họ, cộng đồng, cấp trên, khách hàng, vân vân), và những kẻ hành động hoàn toàn theo ý mình thường bị coi là quái dị, điên khùng, suy đồi, hoặc vô số tên gọi xấu xa khác. Hơn nữa, con người nghe chừng không thể làm gì mà không có mục đích. Chính mục đích quyết định hành động của họ. Nhân vật Veronica có vẻ muốn thoát khỏi điều đó khi bà ta lái xe theo kiểu “tôi thôi điều khiển chiếc xe chạy đường này đường nọ và để nó đi tới nơi nó muốn.” Nhưng rồi nó lại đưa bà tới những chỗ đã biết, những chỗ đầy kỷ niệm quá khứ. Bà quyết định tới phi trường, mua bừa một tấm vé để tới đâu cũng được. Nhưng cũng không thể làm nổi. Sự bất định, nỗi khao khát muốn vượt thoát, sau cùng, chỉ trở thành nỗi sợ hãi. Và Veronica nhận ra cách duy nhất để giảm bớt nỗi sợ hãi là trở lại với đời sống bình thường, nằm trong vòng kiểm soát của mình, như con chim sống trong lồng lâu năm, khi cửa lồng mở, nó ra ngoài nhưng rồi ít lâu sau lại tìm về cái lồng. Có vẻ như không ai thoát được quá khứ.   Trở lại với câu văn ở đầu tác phẩm, “Tôi muốn ghi lại những gì đã xảy ra tại nhà bà ngoại tôi…” tuy nó là câu của nhân vật Veronica nói với người đọc, nhưng ta có thể hiểu rằng nó là của tác giả. Và rải rác trong truyện, Veronica (hay tác giả) vẫn nhắc lại việc viết cuốn sách này. Đây là một thủ pháp thường gặp trong mảng tác phẩm metafiction (siêu hư cấu). Nói ngắn gọn, siêu hư cấu là truyện về truyện, tức là, truyện có suy nghĩ một cách ý thức về bản chất của truyện hư cấu, những phương cách sáng tạo truyện và ảnh hưởng của truyện đối với độc giả.   Trong loại truyện này, tác giả thường tìm cách nhắc người đọc rằng họ đang xem một tác phẩm hư cấu, hoàn toàn bịa đặt, và qua đó, tác giả từ chối trách nhiệm về những ảnh hưởng có thể có của tác phẩm đối với người đọc, đồng thời mời gọi người đọc chia sẻ tâm trạng hay suy nghĩ với nhân vật, thay vì chờ đợi tác giả đem lại lời giải cho câu chuyện, hoặc đúc kết thành một bài học nào đó.   Như thế, những suy nghĩ, quyết định, lựa chọn, vân vân, của nhân vật Veronica trong suốt tác phẩm, dù ở đầu hay ở cuối, đều là hư cấu, và tuyệt đối không thể là chân lý hay quyết định đúng đắn cho chúng ta noi theo. Người đọc chúng ta, như đám du khách, sau khi được dẫn đi qua nhiều ngõ ngách đường sá lớn nhỏ, bỗng thấy mình đứng ở chỗ đồng trống, không một đường mòn hay mái nhà làm mốc định hướng, và phải tự suy nghĩ và lựa chọn. Cách viết này, có thể nói, đã đẩy người đọc vào thực tại, dù là thực tại hư cấu, khác xa lối viết cổ điển, với cốt truyện chặt chẽ; nhân vật được xây dựng hợp lý và có tính cách rõ rệt; và mọi ý nghĩa của câu chuyện hầu như đều được bày hết trên mặt giấy. Điều này, xét cho cùng, có thể được hiểu là một biểu hiện của tinh thần khai phóng và dân chủ trong sáng tạo văn học.   ***   Họp mặt, theo tôi, là một tác phẩm khó đọc, và cần được đọc nhiều lần để có thể vượt qua mê cung gồm những liên tưởng trong ý nghĩ của nhân vật, những mớ lộn xộn giữa sự kiện và tưởng tượng (trong truyện), và những câu chữ có khi bóng bẩy có khi hờ hững khiến ta khó nắm bắt ý nghĩ của tác giả. Bài viết này của người dịch chỉ hy vọng trao đổi chút kinh nghiệm đọc và mấy ý nghĩ rời về tác phẩm, trong cố gắng tìm hiểu tại sao nó được trao một giải thưởng cao quý như vậy.