Thứ 6, 24/11/2017 - 03:16 | Vàng = 33.820 VND

Di tích Đình Cát Lại

10-10-2016 | 08:26
Theo truyền thuyết, đình Cát Lại thờ hai vị Thành hoàng là Đông Bảng Đại vương và Tây Bảng Đại vương, có công đánh giặc giữ nước, trị thủy đem lại mùa màng bội thu và chữa bệnh cứu dân. Trải qua nhiều thế kỷ, đình vẫn giữ được nhiều nét nguyên sơ, như một minh chứng với thời gian về lịch sử dựng nước và giữ nước của các thế hệ cha ông.

 

image

1. Truyền thuyết về Thành hoàng

Vào triều Lý, ở trang Văn Xá, huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Thiên, Ái Châu có một người tên là Phạm Viêm, dòng dõi 7 đời văn chương khoa bảng. Năm ông Viêm 42 tuổi, vợ ông 32 tuổi, mới sinh được một người con gái. Khi con gái lên 8 tuổi thì bà vợ ông qua đời. Ông Viêm lo công việc ma chay cho vợ xong, liền gửi con gái cho người em gái mình rồi tìm nơi để dạy học và làm thuốc chữa bệnh. Ông đi tới quận Hải Dương, nghỉ tại một ngôi chùa có tên chữ là Tây Thiên tự, sau đó, ông xin ở lại chùa giúp việc. Một hôm, ông ngồi trước Phật đường và thiu thiu ngủ, liền mộng thấy một ông lão đầu đội mũ thất Phật, tay cầm gậy, vừa đi vừa ngâm 4 câu thơ:

Muốn thành danh giá đến Hồng Châu,

Lợi lộc, vợ con tự khả cầu.

Phúc đức tâm linh đều hiển đạt,

Vợ hiền, con hiếu kế mai sau.

Tỉnh giấc, cho là mộng lành, ông liền làm lễ tạ rồi đi đến đất Hồng Châu. Đến nơi, ông xin nghỉ ở một quán trọ. Ở đó, có gia đình nhà họ Trương ở trang Thanh Khê mời ông về dạy học cho con mình. Từ đó, ông dạy học và bốc thuốc chữa bệnh cho người dân trong làng và cả những làng xung quanh. Nhà họ Trương thấy ông là người có tài cao bèn gả con gái làm vợ ông. Một hôm, bà vợ ông nằm mộng, thấy hai ngôi sao trên trời sa vào miệng, mấy tháng sau thì mang thai. Đến giờ Ngọ ngày mùng Mười tháng Hai, bỗng dưng có một đám mây hình cái tán bay đến bao trùm cả nóc nhà ông Viêm, lúc đó cũng là lúc bà Trương sinh được 2 người con trai. Hai người con mặt mũi khôi ngô, tuấn tú khác với người thường. Người anh là Phạm Quang, còn người em là là Phạm Huy. Chỉ sau một năm, hai anh em đã biết nói, lên 5 tuổi đã tinh thông văn chương, sử sách. Năm hai ông lên 13 tuổi, triều đình mở khoa thi kén chọn hiền tài, hai ông đến dự thi và đều trúng tam trường. Khi về đến nhà thì cha, mẹ không bệnh mà mất - hôm đó là ngày mùng Mười tháng Bảy. Hai ông mai táng cha, mẹ ở núi Điệp Sơn, rồi thay cha dạy học và bốc thuốc chữa bệnh cho người dân ở huyện Duy Tiên. Chỉ vì có người đề thơ vào tượng Long thần mà dịch bệnh phát sinh khắp nơi. Theo điềm báo mộng, hai ông được dân mời về Cát Lại mở trường dạy học và chữa bệnh tại đó. Hai năm sau, vua Lý Thánh Tông (1054 - 1072) mở khoa thi kén chọn hiền tài, hai ông về kinh thành dự thi. Ông Quang đỗ đệ nhị giáp tiến sĩ, ông Huy đỗ đệ tam giáp tiến sĩ. Sau đó, vua phong ông Quang làm Tham nghị triều chính, Triều nghị trượng phu, ông Huy làm Lễ bộ tham tri, Đô ngự sử.

Khi đó, nạn ngập lụt xảy ra khắp nơi, dân chúng đói khổ, vua liền truyền lệnh sai hai ông đi trị thủy. Hai ông đi đến huyện Nam Xang, đậu thuyền ở bến Cát Lại. Đang đêm có tiếng nói vang vọng trên bến sông: “Hai quan ta phụng mệnh nước đi trị thủy, giao long, thủ tộc mau trở về biển khơi, nếu để hai quan tâu về thiên đình tất phạm tội nặng, thủy quan các ngươi ai có tài chống cự lại hai quan ta cũng chấp”. Vẳng có tiếng đáp lại: “Nam hải đã đem quân sẵn sàng đánh trả”. Nghe xong, hai ông cầm thanh đao vua ban ra tiếp chiến, vụt chốc, dưới sông nước sôi sùng sục, sóng cuộn ào ào, làm thuyền hai ông chìm. Hai ông tay cầm đao nhảy xuống nước chém giao long đứt thành 3 đoạn, rồi đem đầu giao long nộp cho nhà vua. Vua mừng rỡ phong ông Quang làm Đông Bảng Đại vương, ông Huy làm Tây Bảng Đại vương và ban thưởng cho tướng sỹ…

Những gia thần của hai ông ở 4 huyện Duy Tiên, Bình Lục, Nam Xương, Kim Bảng đều được làm dân hộ nhi, lấy trang Cát Lại làm cung sở. Hai năm sau, có quân Lâm Ấp ở phía Nam xâm lấn nước ta, hai ông xin nhà vua đem quân đi đánh. Hai ông bắt sống được hai tướng địch và đem về triều. Trên đường về triều, đến chân núi Bồng Nham, động Vân Hương, huyện Tống Sơn thì Đông Bảng Đại vương hóa, hôm đó là ngày mồng Mười tháng Chạp. Tây Bảng Đại vương dẫn quân về đến xã Kim Hoa, huyện Kim Thành thì hóa, hôm đó là ngày mồng Mười tháng Mười. Vua cảm thương hai ông là bậc trung thần có công với dân, với nước, liền lệnh cho dân chúng phụng thờ. Vua còn ban chiếu cho phép dân trang Cát Lại làm dân hộ nhi, dựng đền ở nơi cung sở, trường học cũ và đèn hương thờ cúng.

Sự linh thiêng, tôn nghiêm của đình Cát Lại gắn liền với tập tục sinh hoạt và từng bước phát triển của dân làng nơi đây. Tại đình thường xuyên diễn ra các sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của nhân dân trong thôn: Ngày mồng Mười tháng Giêng tổ chức rước nước, nhằm tưởng nhớ công lao của hai vị Thành hoàng cứu dân, cứu nước, trị thủy giúp dân có mùa màng bội thu; mồng Mười tháng Bảy là ngày giỗ thân phụ hai vị Thành hoàng; ngày Rằm tháng Bảy, dân làng tổ chức lễ xá tội vong nhân, đồ lễ gồm có xôi, thịt lơn, thịt gà trống, hoa quả, bánh dày, chè lam. Đặc biệt, trong ngày lễ này còn có tục thi làm bánh dày; ngày mồng Mười đến ngày Mười hai tháng Mười, dân làng mở hội tưởng niệm ngày mất của hai vị Thành hoàng. Lễ hội được tổ chức trong ba ngày, ngoài việc tế lễ, còn có các trò chơi, trò diễn dân gian, như đi cầu phao, đánh cờ người, chọi gà, hát chèo... Kết thúc lễ hội, dân thôn lại hứng khởi bước vào những ngày lao động mới với niềm tin vào mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu.

2. Những dấu ấn lịch sử

Cát Lại là mảnh đất có truyền thống yêu nước, tinh thần bất khuất chống giặc ngoại xâm. Có lẽ, từ khi hai vị Thành hoàng bắt sống 2 tướng giặc, đến khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, nhân dân làng Cát Lại luôn nêu cao tinh thần quật cường chống giặc. Năm 1926, trong làn sóng đấu tranh đòi trả tự do cho cụ Phan Bội Châu và để tang cụ Phan Chu Trinh đang lan rộng trong cả nước, nhiều người ở Cát Lại đã tích cực tham gia mít tinh tại thị xã Phủ Lý. Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (1930) đã chỉ đường dẫn lối cho phong trào nông dân ở Cát Lại phát triển mạnh mẽ. Cùng với cả nước, nhân dân Cát Lại đã tích cực hưởng ứng các hoạt động ủng hộ phong trào Xô Viết - Nghệ Tĩnh, phong trào đấu tranh của nông dân Tiền Hải (Thái Bình), cuộc tuần hành thị uy của dân xã Bồ Đề - Bình Lục. Ngày 24/8/1945, hàng trăm người dân Cát Lại tập trung tại đình kéo lên tỉnh tham gia biểu tình dành chính quyền ở thị xã Phủ Lý.

Trong thời kỳ từ năm 1951 - 1975, đình Cát Lại thường xuyên là địa điểm sơ tán của nhiều cơ quan, đơn vị phục vụ cho kháng chiến, như: năm 1951, đình là địa điểm sơ tán và dạy học của trường Trung học Nguyễn Văn Tố, Thánh Hóa; năm 1953 – 1954, một số bộ phận của Bệnh viện Hà Nam đã sơ tán về đình làng làm việc và chữa bệnh cho nhân dân; năm 1961 - 1962, trường Trung cấp Nông nghiệp huyện Bình Lục sơ tán về đình dạy học; năm 1962 - 1967 đình là địa điểm đọc “Huyết tâm thư”, là nơi tuyển con em của quê hương lên đường vào Nam chiến đấu chống đế quốc Mỹ; năm 1971 - 1972, kho dược của Quân khu III đã sơ tán về đình, tiền đường là nơi để dự trữ thuốc cứu chữa thương binh…

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước, đình Cát Lại là địa điểm để tiễn đưa nhiều người con của quê hương lên đường nhập ngũ, chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và đã lập lên những chiến công hiển hách, như anh hùng Trần Văn Chuông…

Đến nay đình Cát Lại vẫn là trung tâm sinh hoạt văn hóa, chính trị, nơi hội họp, của toàn dân và các tổ chức đoàn thể trong thôn.

3. Kiến trúc và di vật

Đình Cát Lại nằm trên thế đất hình rồng, đi từ đường thôn vào đình phải qua nghi môn tứ trụ/cột. Hai cột giữa cao 3,5m, được trang trí giống nhau, đều được chia làm 4 phần - Chân cột thắt cổ bồng, thân cột đắp ô lõm hình chữ nhật, nhấn vữa câu đối chữ Hán, các cạnh được bao viền xung quanh bằng các đường chỉ thanh thoát, tiếp đến là ô lồng đèn hình vuông, trên cùng là nghê chầu. Hai cột trụ nhỏ cao 2,3m, cũng được trang trí như hai cột trụ lớn. Từ nghi môn qua sân là đến tòa tiền tế. Ở hai đầu hiên trước của tòa này có hai trụ biểu cao 3,15m được chia làm 4 phần - chân trụ tạo dáng thắt cỏ bồng, thân trụ hình khói chữ nhật, bốn mặt tạo ô chìm nhấn vữa câu đối chữ Hán, tiếp trên là 4 ô lồng đèn, trên cùng là nghê chầu. Hai đầu hổi hiên đắp hai bức tượng đứng gác. Từ hiên có thể vào tòa tiền tế qua 3 ô cửa bức bàn. Hai đầu hồi được xây bằng tường kín để hai ô thoáng hình chữ Thọ.

Đình có bố cục mặt bằng hình chữ Đinh, với tiền tế gồm 3 gian 2 dĩ, hậu cung một gian. Tiền tế và hậu cung giao mái với nhau tạo thành một tổng thể kiến trúc liên hoàn và khép kín. Bộ khung chịu lực tòa tiền tế gồm 6 vì, mỗi vì đều tì lực lên 4 hàng chân cột (hai cột cái và hai cột quân). Thức kiến trúc hai vì gian giữa theo lối chồng rường con nhị, ván mê, bảy tiền; hai vì gian bên và hai vì của dĩ theo kiểu chồng rường con nhị, kẻ/bảy. Nối hai đầu cột cái gian giữa là câu đầu, được bào trơn đóng bén. Dưới dạ câu đầu khắc hàng chữ Hán. Đỡ câu đầu là các đầu dư hình rồng, chắc khỏe, được tạo tác công phu, tỉ mỉ, với các đường nét và tư thế khác nhau: con thì dữ tợn, con thì hiền hòa, hai mắt lồi to, miệng ngậm ngọc, các đao mác chảy xuôi về phía sau mềm mại, móng vuốt sắc nhọn như bám chặt lấy câu đầu. Trên vì nóc, các con rường, trụ trốn đều được tạo tác tỉ mỉ, có điểm hình mây mềm mại. Vươn ra từ các cột quân đỡ hàng tàu mái là các bảy, được tạo thành từ các khối gỗ lim lớn. Trên các thân bảy trang trí các đường triện tàu, cách điệu hình mây hóa rồng. Cùng với kết cáu bộ vì còn có các xà ngang, xà dọc. Các cấu kiện này đều được bào gọt nhẵn nhụi, soi ống tơ đẹp mắt, tạo nên sự hài hòa cho kiến trúc…

Đặc biệt, tại đình Cát Lại hiện nay còn lưu giữ được nhiều đồ thờ, với đường nét chạm khắc công phu, tỉ mỉ, có giá trị nghệ thuật cao, như: hai ngai thờ của hai vị Thành hoàng, với phần thân ngai chạm khắc hình rồng uốn lượn mềm mại, đế ngai được tạo tác theo kiểu chân quỳ dạ cá, chạm khắc phù điêu hình rồng, dưới cùng là mặt hổ phù, với nét mặt dữ tợn, miệng há rộng, mắt lồi to. Các cỗ ngai vẫn giữ được lớp sơn son thiếp vàng cổ kính.

Treo phía trên gian giữa tòa tiền tế là các bức đại tự lớn (dài 2m, rộng 1,2m). Diềm hai bên và diềm dưới của bức đại tự này chạm khắc mây hóa rồng; diềm trên cùng chạm thông phong đôi rồng chầu mặt nhật, với các con rồng đầu ngẩng cao, móng vuốt sắc nhọn, các đao mác mềm mại bay xuôi về phía sau. Nền bức đại tự chạm nổi bức cuốn thư, trong chạm khắc 4 chữ Hán. Nhìn chung, toàn bộ bức đại tự được chạm khắc khá tỉ mỉ, với những đường nét tinh xảo và mềm mại.

Phía trên gian bên trái tòa tiền tế là bức cuốn thư, có chiều dài 1,8m, bằng gỗ sơn son thiếp vàng. Trung tâm cuốn thư được chạm khắc chữa Hán trên nền hoa cúc và hoa trúc đan xen nhau. Diềm cuốn thư được đục thông phong, với đồ án hoa cúc, chim phượng, hai bên tạo hình hai cây bút, trên thân bút là các hình chữ Vạn, hoa cúc đan chéo nhau, với những nét chạm công phu tỉ mỉ mang giá trị nghệ thuật cao.

Điểm qua đôi nét về hạt nhân tín ngưỡng (Thành hoàng làng), truyền thống lịch sử - văn hóa của của cộng đồng - chủ nhân sáng tạo và duy trì di tích, cùng với những giá trị độc đáo về kiến trúc nghệ thuật của di tích…, để cùng nhau thấy rằng, đình Cát Lại như một minh chứng với thời gian về lịch sử lập làng, dựng nước và giữ nước của các thế hệ người dân Cát Lại. Đó cũng là những yếu tố cốt lõi làm nên giá trị các mặt của di tích - cần phải được bảo vệ và phát huy giá trị./.

                                                                                                                               Lê Thu Hiền